Giáo dục là một hiện tượng chịu sự quy định của xã hội, trước hết là các điều kiện kinh tế xã hội. Việc phát triển giáo dục đại học của một quốc gia cũng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó. Phát triển giáo dục đại học là nhằm đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động chất lượng cao của nền sản xuất xã hội nói riêng và sự phát triển xã hội nói chung. Xét theo lịch sử phát triển của xã hội từ trước tới nay và yêu cầu của xã hội đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng chúng ta thấy nổi lên một số quan điểm phát triển giáo dục đại học sau đây:

1.1. Giáo dục tinh hoa (educatiom for elite)
Giáo dục đại học theo hướng hàn lâm, tinh hoa chủ yếu trong các xã hội chậm phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc hậu, đòi hỏi về lực lượng lao động có trình độ cao rất ít. Trong lịch sử, giáo dục tinh hoa xuất hiện và tồn tại chủ yếu trong nền kinh tế nông nghiệp và tiền công nghiệp. Tương ứng với trình độ phát triển kinh tế xã hội, nhà nước chỉ có một nguồn lực nhất định để đầu tư cho giáo dục. Do nguồn lực còn hạn chế, để sử dụng một cách có hiệu quả cho toàn xã hội, nhiều quốc gia đã đào tạo bậc đại học theo hướng “tinh hoa”, theo phương châm ít mà tinh. Tư tưởng này một mặt tương ứng với khả năng cụ thể của xã hội, một mặt phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Hệ thống các trường đại học các nước phương Tây trước đây và các trường “quốc tử giám” của các nước phương Đông theo Nho học là những điển hình của tư tưởng này.
Gọi là giáo dục tinh hoa vì một số lí do cơ bản sau: Thứ nhất, chỉ một số người ưu tú và những người có quyền lực trong xã hội được hưởng nền giáo dục đại học. Hầu hết nhân dân lao động không bao giờ có quyền được hưởng nền giáo dục này. Vì thế, trong xã hội có rất ít người có học vấn đại học, họ là những người quyền quý đại diện cho nền văn minh của xã hội. Có ít người được hưởng nền giáo dục đại học vì nhà nước không có đủ điều kiện trường lớp, tài liệu, tiền bạc, cơ sở vật chất, giáo viên…đáp ứng cho nhu cầu học tập của người dân. Đặc biệt là nền sản xuất xã hội không đòi hỏi nhiều người có trình độ cao như vậy nên không tạo ra được động lực học tập của đông đảo người dân trong xã hội. Mặt khác, người dân cũng không có đủ điều kiện để hưởng thụ nền giáo dục này (không có đủ tiền bạc, điều kiện, vị thế xã hội, cơ chế, chính sách của nhà nước…).
Thứ hai là, giáo dục đại học chủ yếu học tập những tri thức tinh tuý nhất mang tính hàn lâm, kinh viện. Giáo dục đại học là nơi sáng tạo, sản sinh ra các tri thức mới và lưu truyền trong một phạm vi hẹp của xã hội. Những người học đại học được xếp vào hàng ngũ trí thức và lao động trí óc thuần khiết tách biệt với đời sống lao động chân tay của đại đa số nhân dân lao động.
Nền giáo dục tinh hoa đào tạo có tính chất nhỏ giọt nhằm duy trì và phát triển văn hoá xã hội. Quá trình lựa chọn thi tuyển cũng như quá trình đào tạo rất phức tạp và rườm rà, kém hiệu quả nhưng lại đòi hỏi hết sức khắt khe và chặt chẽ. Chẳng hạn, thời phong kiến ở nước ta cứ 3 năm mới mở một khoa thi để chọn ra một trạng nguyên, một bảng nhãn, một thám hoa (tương đương với đào tạo sau đại học bây giờ) và vài chục cử nhân. Ngay cả số người học đến tú tài cũng đã rất hạn chế rồi (mỗi huyện chỉ có vài người).
Ngày nay, nhiều nước chậm phát triển, giáo dục đại học vẫn đào tạo theo hướng tinh hoa. Chính vì thế, những nước này đã chậm phát triển lại càng chậm phát triển và lạc hậu thêm.
Nhận thức được vai trò của giáo dục trong nền kinh tế tri thức, nhiều nước trong đó có Việt Nam đã có nhiều chính sách phát triển giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và phải tập trung phát triển giáo dục đi trước một bước so với sù ph¸t triÓn kinh tế xã hội nhằm tạo cơ hội cho việc đi tắt, đón đầu sự phát triển của thế giới.
Giáo dục tinh hoa không còn phù hợp với thời đại ngày nay. Nền sản xuất lớn, sản xuất theo công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nhất là nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục phải đào tạo hàng loạt người lao động có trình độ cao. Giáo dục đại học phải chuyển từ đào tạo tinh hoa sang giáo dôc đại chúng. Mọi người phải được tiếp cận với nền giáo dục đại học dưới mọi hình thức để tham gia vào nền sản xuất xã hội. Nền giáo dục tinh hoa không thể đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất mới nên người ta đ• mở ra rất nhiều trường cao đẳng và đại học. Tuy vậy, người ta vẫn duy trì một bộ phận giáo dục tinh hoa chất lượng cao để phát triển khoa học kĩ thuật theo hướng hàn lâm. Ví dụ, ở Hoa kì ngày nay người ta đ• chọn khoảng 1-2% sinh viên trong các trường đại học đào tạo theo hướng tinh hoa.
1.2 Giáo dục vì nguồn nhân lực (education for manpower)
Nền sản xuất x• hội càng phát triển (yêu cầu về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…ngày càng tăng) thì nhu cầu nhân lực của x• hội càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Ban đầu, đòi hỏi về trình độ đào tạo của lực lượng lao động chưa cao, một bộ phận của hệ thống giáo dục đảm nhiệm chức năng giảng dạy các kiến thức trực tiếp phục vụ sản xuất, dịch vụ, kinh doanh, quản lí. Hiện tượng này đ• diễn ra nhanh chóng trong các nước công nghiệp phương Tây. Giai đoạn này là sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục vì nguồn nhân lực.
Khi nền sản xuất x• hội càng hiện đại, đòi hỏi lực lượng tham gia lao động có trình độ ngày càng cao, những cơ sở đào tạo trực tiếp dần dần mất tác dụng. Lúc này, giáo dục đại học trở thành cơ sở đào tạo lực lượng lao động chính cho x• hội. Nguồn nhân lực chất lượng cao này sẽ tham gia vào các ngành sản xuất chính của x• hội như điện tử viễn thông, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ na nô, công nghệ vũ trụ,…và tạo ra của cải vật chất chính cho x• hội. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, hàng loạt các trường đại học, cao đẳng được mở ra cả công lập và ngoài công lập và đào tạo với nhiều phương thức khác nhau. Với quan điểm đào tạo này đ• giúp cho nhiều nước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công.
ở nước ta với đặc thù x• hội đang tồn tại nhiều nền kinh tế đan xen nhau (kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và bắt đầu hình thành một bộ phận của nền kinh tế tri thức) vì thế giáo dục đại học cũng đan xen nhau giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục vì nguồn nhân lực. Tuy vậy, giáo dục d?i h?c đang chuyển dần sang vì nguồn nhân lực là chính. Bằng chứng là nhiều trường đại học được mở ra cả công lập và ngoài công lập, cả trung ương và các khu vực, các địa phương. Tỉ lệ sinh viên trên một vạn dân ngày càng cao. Dự kiến đến năm 2010 tỉ lệ sinh viên trên một vạn dân ở nước ta là 200. Đây là một tỉ lệ còn rất thấp so với khu vực và thế giới. Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công và xây dựng bảo vệ Tổ quốc chúng ta phải nâng tỉ lệ sinh viên đại học cao hơn nữa, tạo ra một cơ cấu lao động hợp lí . Các trường đại học phải trở thành nơi đào tạo nguồn nhân lực chính cho x• hội.
1.3. Giáo dục đại chúng (Education for mass)
Khi xã hội đạt tới một mức độ phát triển nhất định về kinh tế-xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số nhân dân được cải thiện, nhận thức về giá trị giáo dục được nâng cao, nhu cầu được hưởng thụ giáo dục đại học của người dân trở thành phổ biến. Mọi người dân đều có nhu cầu học tập nâng cao trình độ, một mặt nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của cá nhân, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội. Những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự phát triển sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đòi hỏi đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ ngày càng cao tạo nên trong xã hội những đòi hỏi rộng lớn về giáo dục ở trình độ cao. Trước tình hình đó đã tạo ra yêu cầu phải có một nền giáo dục đại chúng (kể cả giáo dục đại học) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo nhân dân, để tất cả mọi người được học tập, phát huy nhân cách của mình và đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường nhân lực trong một xã hội phát triển.
Trên thế giới, nhiều nước đã có những đặc điểm của nền giáo dục đại học đại chúng. Tiêu biểu là hệ thống giáo dục của Mĩ. Giáo dục được phổ cập rộng rãi trong xã hội và ở bậc học ngày càng cao. Đào tạo nghề nghiệp được mở rộng khắp mọi nơi, giáo dục đại học và cao đẳng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, tổ chức, phương thức đào tạo, đa ngành, đa dạng, đa trình độ, đa chuyên môn…Hệ thống này tỏ ra thích hợp với các quốc gia có nền kinh tế thị trường và có trình độ khoa học công nghệ cao. Nhiều nước phát triển đang tiếp thu hình thức giáo dục này để phát triển giáo dục ở quốc gia mình. Các bậc học như cao học ở trình độ sau đại học, các trường cao đẳng cộng đồng vốn chỉ phát triển tại Hoa Kì thì nay dần dần trở thành phổ biến ở nhiều nước ở châu Âu và châu Á.
Giáo dục đại chúng thể hiện ở quy mô giáo dục rộng lớn, chất lượng giáo dục đa dạng, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát triển tự do, linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội. Mọi người dân đều có quyền học tập dưới mọi hình thức phụ thuộc vào điều kiện của từng cá nhân. Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích người dân học tập nâng cao trình độ học vấn cũng như nghề nghiệp.


Giáo dục đại chúng đang là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội hiện nay. Đây là một xu thế giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng của xã hội.
Tư tưởng giáo dục đại chúng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam. Ngay trong đề cương văn hoá của Đảng ta những năm 40 của thế kỉ trước đã đề cập đến việc xây dựng một nền văn hoá đại chúng. Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc thực hiện tư tưởng giáo dục đại chúng càng có cơ hội phát triển. Hàng loạt trường đại học, cao đẳng đã được mở ra để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội. Theo con số thống kê năm 2007 cả nước ta có 304 trường. Đại học có 130 trường, cao đẳng có 174 trường. Có 2 trường đại học quốc gia và một số đại học vùng có các trường đại học thành viên. Ví dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội có 4 trường đại học thành viên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh có 5 trường đại học thành viên, Đại học Thái Nguyên có 7 trường đại học thành viên và 1 trường cao đẳng, Đại học Huế có 7 trường đại học thành viên, Đại học Đà Nẵng có 6 trường đại học thành viên.

Nguồn: [Bạn cần đăng nhập hoặc để xem nội dung]